Đám cưới của người Brũ Vân kiều

Thứ ba - 28/02/2017 08:03

Đám cưới người Brũ Vân kiều mang những sắc thái riêng (Hồng Thái)

Đám cưới người Brũ Vân kiều mang những sắc thái riêng (Hồng Thái)
Khi con người chúng ta được sinh ra và lớn lên ai cũng có những nhu cầu hạnh phúc và cuộc sống riêng của mình đó là: “lập gia đình và sinh con nó được xem là quy luật sinh tồn và phát triển của xã hội loài người nói chung.
 Đám cưới của người Brũ Vân Kiều được xem là một trong những phong tục tập quán, tính ngưỡng cổ xưa nhất của người vân kiều nó vừa mang tính cộng đồng nó vừa nâng cao vị trí và chức năng của các dòng tộc và dòng họ cho đến ngày nay vẩn còn lưu giữ. Khi trong dòng họ hoặc trong gia đình có người lập gia đình “dựng vợ hay gã chồng” thì người con đó phải thực hiện từng bước theo phong tục tập quán của người Vân kiều.
Trước khi bước và lễ cưới chính thức người Vân kiều có thêm môt phong tục vô cùng quan trong đó là phong tục  “ lễ bỏ của” giữa hai gia đình.
 Lễ bỏ của giữa hai gia đình: trong lễ này được hai gia đình nhờ người đi hỏi họ cử ra hai “bà mối hay ông mối” có uy tín nhất đại diện cho bên nhà nam và bên nhà nữ đứng ra móc nối theo phong tục.
Độ tuổi của hai bà mối hoặc ông mối này từ 50 tuổi trở lên họ rất am hiểu về phong tục tập quán của địa phương.
Sau khi hai bà mối thống nhất, bà mối nhà gái báo lại gia đình và quyết định họp dòng họ sau khi nhất trí, bên nữ báo lại cho nhà nam để chọn ngày làm phong tục:
Vật lễ bên nhà nam đem đến nhà gái gồm:
- Một hộp đồng nhỏ được chạm khắc rất tinh tế, trong họp gồm cau, trầu và thuốc lá.
- Một hộp đồng nhỏ đựng vôi.
- Một ống điếu làm bằng gổ dùng để hút thuốc.
          - Một áo A dỏ dùng để đùm bạc trắng hoặc tiền. “ Bạc trắng từ 2 nén đến 3 nén tùy theo gia đình bên nữ ra giá”.
Được sự thống nhất của hai gia đình bà mối, bên nhà nam mang lễ vật qua nhà gái: Gồm chú rễ tương lai và thanh niên nam, bạn của chú rễ đi theo. Đặc biệt lúc này bố, mẹ hoặc chú bác, cậu mợ bên nhà nam không tham dự vì họ quan niệm nếu tham dự vào thì sẽ không đem lại may mắn cho đôi vợ chồng trẻ sau này.
Lễ vật được bà mối hoặc ông mối mang đến, nếu gia đình bên nhà gái đồng ý thì lúc này đôi trai gái mới đem chúng và nhà nhưng chỉ được vào đường nhà nhỏ chứ không được vào cổng nhà lớn. Sau khi chấp nhận thì lúc này thanh niên nhà trai mới được vào nhà gái, lúc này họ ăn mừng bằng cách làm gà và uống rượu trò chuyện suốt đêm.
Lễ vật chính thức trong đám cưới gồm:
Heo hoặc dê từ 1 đến 3 con.
Gà gồm 2 con, 1 gà trống và 1 gà mái.
Một buồng chuối to đã chính.
Một ché rượu cần lớn tự dòng họ nhà nam làm ra.
Lúc đón dâu về nhà nam, mang theo một Thanh kiếm có chiều dài khoảng 60 cm nó tượng trưng cho sức mạnh và lòng dũng cảm, kiên cường. Một cái nồi đồng còn gọi là “nồi ba” trong nồi có những lễ vật “1 nén bạc” và 5 hạt “cường”  Tượng trưng cho sự no ấm... (Khi  lễ vật mang đến nhà gái được đặt trước hiên nhà gái sau đó nhà gái nhận lễ vật của nhà trai mới mời nhà trai lên nhà và làm lễ chính thức công nhận con rễ của gia đình).
Trình tự lễ: Hai gia đình ngồi trên sàn nhà, lúc này theo tập tục quy định cán thanh kiếm hướng về nhà gái, lưởi thanh kiếm hướng về nhà trai.
Theo phong tục của người Brũ Vân kiều sau khi lễ cưới được tổ chức xong, hai lễ vật thanh kiếm và nồi đồng sau 1 tháng nhà nam đến chuộc thanh kiếm và “nồi ba” tức nồi đồng, tùy theo nhà gái ra giá thường là 100.000đ (hiện nay).
Khi lễ vật heo, gà của nhà nam mang trao tặng cho nhà gái đồng thời cũng là lúc đưa con dâu vào nhà chồng lúc này cô dâu chính thức thuộc người của dòng họ mình chứ không thuộc vào dòng họ nhà nữ nữa.
Trong đám cưới một thứ lễ vật cũng vô cùng quan trọng  không thể thiếu đó là bánh Beeng, được xếp gọn vào pa điền đặt trên bàn thờ của tổ tiên. Người Vân kiều họ quan niệm rằng bánh Beeng đem lại may mắn và nó tượng trưng cho sự vĩnh hàng của tình yêu nó còn là lễ vật nhớ ơn đến tổ tiên và thần linh đã ban tặng cho họ “cái ăn, cái mặc”
Vật dụng được làm thành bánh:
 Sau khi thu hoạch gạo nếp từ rẩy về, họ chọn ra những hạt nếp to để làm bánh đặc biệt nếp này rất dẻo và thơm, nếp có màu sắc đen hoặc đỏ, gọi là “nếp than” rồi đem  ra ngâm với nước lạnh từ 2 đến 3 tiếng đợi sau khi hạt nếp mềm rồi đem nếp ra gói với lá dong theo hình tròn, chiều dài của chiếc bánh này khoảng 30 cm được bó chặt với dây rừng, rồi đem ra nấu khoảng 2 tiếng là đã hoàn thành xong món bánh Beeng.
Trang phục trong lễ cưới:
- Trang phục nữ: Áo A dỏ xanh (Adzoo) dệt từ vải thổ cẩm truyền thống, màu sắc đúng theo quy định của dân tộc Brũ Vân kiều.
- Trang phục Nam: Xa lai còn gọi là “khố” và áo A Mưng được là bằng vỏ cây A Mưng.
Xa lai: “Khố” là loại trang phục truyền thống của nam giới, nó không chỉ phục vụ trong đám cưới mà nó còn mặc trong dịp lễ hội, phong tục và tập quán, tín ngưỡng.
Như thường lệ đám cưới được cưới trong hai ngày; 1 ngày nhà nữ và 1 ngày nhà nam đặc biệt ở đây chỉ có đám cưới ở nhà nữ mới được đánh trống vì người Vân kiều có quan niệm chúc cho con gái đi lấy chồng gặp nhiều may mắn và chúc cho con gái mình sớm sinh con đầu lòng.
Sau khi đám cưới tổ chức, người dân trong thôn bản đến tham gia chung vui cùng gia đình, họ mang theo vật phẩm để góp vui: như gà, vịt, rượu, gạo nếp...
 

Tác giả bài viết: Nguyễn Hồng Thái - Công chức XHTT

Nguồn tin: Hồng Thái


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thông báo
GIấy mời